Giới thiệu website
 


Tạp chí Xưa & Nay
Tòa soạn: 25 Tông Đản - Hà Nội
Tel/Fax: 04.8256588
Email: tapchixuavanay@yahoo.com
VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP. Hồ Chí Minh
Tel: 08.8385117-Fax: 08.8385126
Email: xuanay@hcm.fpt.vn
Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng
TBT: Dương Trung Quốc
P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh



Tìm kiếm

  Tìm kiếm trên website
  Tìm kiếm trên google


 


  Liên kết website


  Thông tin website
² Thứ Hai, 27/10/2008
² Số truy cập:76790
  ² Đang online: 23
 

Quảng cáo


 
Kiến thức lịch sử
 
 
Chất lượng của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông thực trạng và giải pháp

Những năm gần đây, dư luận xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng của môn lịch sử nói riêng ở trường phổ thông. Hầu hết các ý kiến đều bày tỏ sự bức xúc về sự giảm sút đến không ngờ của chất lượng bộ môn. Báo điện tử Vietnamnet viết “ Kỳ thi vào đại học và cao đẳng năm 2005 có 58,5% bài thi môn lịch sử chỉ đạt điểm 1 trở xuống.



 I. Vấn đề chất lượng dạy và học lịch sử hiện nay:

Điều tra 4 trường đại học lớn ở các khu vực bao gồm: ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Đà Lạt, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, ĐHSP Đồng Tháp có tổng số thí sinh  thi khối C là 23.588 thì số bài được trên 5 điểm là 2.296, chiếm 9,73%. Sang năm 2006, điểm trung bình các bài thi lịch sử vào đại học là 1,96, thấp nhất trong các môn. Riêng ở các trường Đại học sư phạm Hà Nội (một trường danh giá, học sinh phải tính toán trước khi đăng ký dự thi vì điểm chuẩn cao), trong tổng số bài thi môn Lịch sử là 5.399 thì có tới 2.828 dưới 1 điểm, chiếm 52,4 %, trong đó gần 600 bài điểm 0 (cứ 10 bài có 1 bài 0 điểm). Những bài điểm 0 thường bỏ giấy trắng, hoặc không biết làm gì trong 2 giờ ngồi trong phòng thi nên viết linh tinh, lộn xộn như: “ Nhật Pháp đánh nhau, Việt Nam vớ bở”,  “ Hoà thượng Thích Quảng Đức hoả thiêu tại Ngã Tư Sở”, “Đồng minh phá kho thóc của Nhật”…và còn nhiều điều “ cười ra nước mắt” nữa mà nhiều thầy cô trực tiếp chấm thi tuyển sinh đã từng chứng kiến, có lẽ chúng ta không tổng kết hết được.

Từ thực trạng nói trên, dư luận xã hội dóng lên hồi chuông cảch báo đối với những người làm công tác quản lý giáo dục, những giáo viên lịch sử ở trường phổ thông và ngay cả những người làm công tác đào tạo giáo viên lịch sử ở các trường đại học và cao đẳng sư phạm trong cả nước. Đương nhiên không ai thờ ơ với thực trạng nói trên. Mọi người đều đi tìm nguyên nhân để giải đáp cho vấn đề đó. Song, xuất phát từ những vị trí công tác khác nhau, nên đã có nhiều cách đánh giá khác nhau, từ những người ngoài cuộc quan tâm đến giáo dục, đến cả những cơ quan chuyên trách, từ phía phụ huynh học sinh, đến giáo viên bộ môn. Người ta đã kể tới một loạt những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nào là bộ môn lịch sử chưa được quan tâm đúng mức, chỉ là bộ môn phụ trong các môn ở trường phổ thông. Nào là chương trình nội dung, phương pháp dạy học lịch sử lạc hậu, học sinh không có hứng thú học tập bộ môn,…rồi việc đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm có vấn đề.v.v…

Vấn đề đặt ra là chất lượng của bộ môn lịch sử hiện nay ở trường phổ thông có thực sự là đáng báo động, phản ánh sự xuống cấp nghiêm trọng không? chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện ra những sai lầm, yếu kém để cùng nhau khắc phục sửa chữa. Song chúng tôi cũng đề nghị cần có cách nhìn khách quan, toàn diện hơn, biện chứng hơn chứ không dừng lại ở cách nhìn phiến diện, chỉ những hạn chế yếu kém của nó. Trên thực tế những hạn chế này đã tồn tại từ nhiều năm nay. Có chăng những năm gần đây vấn đề ngày càng nhức nhối hơn vì được phản ánh khá rộng rãi trong dư luận xã hội. Xin nói thêm rằng, mấy năm gần đây do việc tổ chức thi tuyển sinh ở các trường đại học, cao đẳng thực sự nghiêm túc, ít có hiện tượng quay cóp, phản ánh đúng thực lực của học sinh yếu kém mà vội vã phủ nhận hoàn toàn chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông và những đóng góp của bộ môn lịch sử. Bởi vì bên cạnh đó cũng xuất hiện nhiều học sinh giỏi lịch sử, điểm chuẩn vào các trường đại học vẫn rất cao (học sinh phải đạt 6-7 điểm lịch sử mới có thể vào được đại học).

Hơn nữa điểm thi của học sinh còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác như, đề thi, đáp án, tổ chức thi, chấm thi… Những yếu tố đó đã thực sự khách quan khoa học chưa? Chúng tôi cũng biết rằng điểm thi là tiêu chí quan trọng và rất cơ bản khi đánh giá chất lượng giáo viên lịch sử đã có nhiều nỗ lực để nâng cao chất lượng bộ môn. Trong thực tế, những năm qua phần lớn giáo viên lịch sử ở trường phổ thông là những người yêu nghề, say sưa với công tác giảng dạy, lo lắng đầu tư cho chuyên môn, tìm mọi biện pháp để có được những giờ dạy tốt, học tốt.

Nhiều giáo viên đã cố gắng vượt qua khó khăn về cơ sở vật chất, sáng tạo các hình thức tổ chức dạy học, đồ dùng trực quan, tìm cách truyền cho học sinh những cảm hứng trong mỗi giờ học. Đó là những đóng góp tích cực không thể phủ nhận. Mặt khác công cuộc đổi mới giáo dục những năm qua cũng có những bước tiến đáng kể theo hướng ngày càng tích cực. Giáo viên lịch sử ở trường phổ thông đã được thường xuyên bồi dưỡng cả về chuyên môn và nghiệp vụ… Đối với học sinh, rõ ràng có một bộ phận lớn chưa thực sự quan tâm tới bộ môn lịch sử, chưa có động cơ, ý thức học tập đúng đắn với bộ môn, Điều này cũng khó tránh khỏi trong bối cảnh hiện nay do tác động của nền kinh tế thị trường, tính thực dụng ngày càng rõ nét trong việc lựa chọn môn học, trường học, nghề nghiệp khi ra trường.

Học lịch sử để mà yêu quê hương, đất nước, quý trọng những truyền thống giá trị của nhân loại và dân tộc còn quá xa đối với các em. Song bên cạnh đó cũng có một bộ phận học sinh (kể cả học sinh ban khoa học tự nhiên) rất có ý thực học tập bộ môn, mong muốn khám phá tri thức về lịch sử dân tộc, lịch sử loài người, lịch sử văn minh thế giới và văn minh của quốc gia, thi tìm hiểu Đảng cộng sản Việt Nam, 60 năm Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,… đã phần nào phản ánh được bước chuyển biến nhất định về chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Không những thế, trong những năm qua bộ môn lịch sử ở trường đã có những thay đổi đáng kể mang tính tích cực, toàn diện từ nội dung, phương pháp cách thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tích cực chủ động của học sinh. Chúng tôi cho rằng những thay đổi trên là đúng hướng cần phải tiếp tục đẩy mạnh, phát huy hơn nữa trong các trường phổ thông. Chúng tôi cũng nghĩ rằng, những kết quả ấy là chưa nhiều, chưa đáp ứng với những đòi hỏi của xã hội. Còn nhiều vấn đề yếu kém, bất cập đặt ra đòi hỏi chúng ta phải giải quyết.

II. Những vấn đề cần quan tâm để nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử

Xuất phát từ công tác đào tạo giáo viên khoa Lịch sử trường ĐHSP Hà Nội, từ góc độ của người nghiên cứu về lý luận dạy học lịch sử ở trường phổ thông, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cấp bách cần được trao đổi thảo luận tiếp nhằm tạo ra những đồng thuận trong việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử hiện nay.

Sẽ còn nhiều ý kiến khác nhau về chất lượng dạy học lịch sử hiện nay ở trường phổ thông, cũng như tìm ra những nguyên nhân, bàn các biện pháp để tháo gỡ những khó khăn đó. Song chúng tôi cũng muốn khẳng định lại rằng bất kể ai quan tâm đến chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng bộ môn lịch sử nói riêng từ những người làm công tác quản lý, xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa đến các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông, đều không bàng quang, bỏ mặc hoặc lẩn tránh trước dư luận xã hội. Song than phiền, trách móc hoặc đổ lỗi trách nhiệm cho người khác, bộ phận khác, lĩnh vực khác là một điều không nên. Cái chúng ta cần là một cái nhìn công bằng, khách quan, biện chứng những gì bộ môn lịch sử đã làm được, những gì còn hạn chế để có biện pháp khắc phục đưa bộ môn lịch sử đúng với vị trí vốn có của nó trong nhà trường cũng như trong xã hội. 

1. Dạy học nói chung, dạy lịch sử ở trường phổ thông nói riêng là một quá trình sư phạm phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố hợp thành, như mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá…

Mỗi yếu tố nói trên lại có vai trò, vị trí nhất định trong quá trình dạy học. Chất lượng dạy học lịch sử chỉ có thể nâng lên với sự tham gia tích cực của các yếu tố đó. Một yếu tố nào lạc hậu, tất yếu sẽ ảnh hưởng và tác động tiêu cực đến chất lượng của bộ môn. Điều đó đặt ra cho chúng ta và cả những người quản lý giáo dục, những người làm công tác đào tạo, những giáo viên phải quan tâm giải quyết tất cả những yếu tố đó tuỳ thuộc vào vị trí, điều kiện công tác của mình. Nó đòi hỏi môi trường dạy học phải tốt hơn, mục tiêu đào tạo phải cụ thể, rõ ràng đúng đắn hơn, sách giáo khoa phải hay hơn, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học phải phù hợp hơn…

2. Trong các yếu tố nêu trên của quá trình dạy học thì hoạt động của thầy và trò, phương pháp dạy và phương pháp học có vai trò quyết định nhất.

Cần phải có quan niệm đúng đắn về hai hoạt động này trong quá trình dạy học. Mọi yếu tố khác như sách giáo khoa, phương tiện dạy học, nội dung dạy học đều phải thông qua hai yếu tố này mà phát huy tác dụng. Thực tế chứng tỏ rằng, cùng nội dung của sách giáo khoa, cùng có phương tiện dạy học như nhau, song được sử dụng bởi những con người khác nhau sẽ phát huy tác dụng khác nhau.

Vì vậy, khâu đột phá trước tiên phải tập trung vào hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học. Dạy là dạy để mà học, dạy cách học cho học sinh và học là học dưới sự điều khiển, hướng dẫn, tổ chức của thầy. Hiện tượng bài lịch sử khô khan, nặng nề, không hấp dẫn, không thu hút được sự chú ý, say mê của học sinh xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân dạy, hoạt động của thầy trong quá trình dạy học. Để làm được điều đó, người thầy không chỉ giỏi về khoa lịch sử mà còn phải tinh thông về nghề nghiệp. Thầy có giỏi mới đào tào được trò giỏi là trên ý nghĩa đó.

3. Nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông phải được quan tâm từ nhiều phía, từ dư luận xã hội đối với người giáo viên sử, vị thế của họ trong xã hội cả về đời sống vật chất và tinh thần, đặc biệt công tác đào tạo trong các trường sư phạm và cả trong quá trình công tác.

Thực tế chứng tỏ rằng chúng ta chưa làm tốt công tác này. Bằng cớ là sinh viên chỉ được đào tạo trong các trường sư phạm từ 3 -4 năm, chỉ trang bị cho họ những kiến thức cơ bản cả về khoa học lịch sử và khoa học nghiệp vụ. Sau khi ra trường hầu hết họ tự bằng lòng với những kiến thức đó để hành nghề, không bắt kịp những thay đổi nhanh chóng mà thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông đặt ra. Vì vậy, ngay từ khi bước vào trường sư phạm, sinh viên phải được rèn luyện những năng lực quan trọng không thể thiếu đối với người giáo viên, đó là năng lực tự học, năng lực dạy học và năng lực nghiên cứu khoa học.

Tiếc rằng trong các trường đại học sư phạm của chúng ta, ngay cả ở khoa Lịch sử trường ĐHSP Hà Nội, việc hình thành năng lực nói trên cho sinh viên còn chưa chú trọng đúng mức. Chúng ta mới chỉ dạy kiến thức lịch sử, kỹ năng nghiệp vụ mà chưa hình thành được cho học sinh phẩm chất mà họ cần phải có trong suốt cả cuộc đời. Không biết tự học, không lấy tự học là nhu cầu suốt đời, không có năng lực dạy học, nghiên cứu khoa học để tự mình sáng tạo ra những phương pháp dạy học mới cho phù hợp với từng điều kiện cụ thể ở mỗi lớp học, cấp học, không thể là một giáo viên giỏi. Theo chúng tôi việc tự học, tự nâng cao trình độ cả về chuyên môn, nghiệp vụ của hầy hết giáo viên lịch sử của chúng ta hiện nay là yếu kém…

4. Vấn đề kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học lịch sử nói chung và trong các kỳ thi nói riêng phải được giải quyết dứt điểm, phải được coi là khâu đột phá trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử hiện nay.

Chúng ta biết rằng dù ở nhà trường nào, xã hội nào thì quá trình dạy học cũng phải gắn liền với việc kiểm tra đánh giá. Nó không chỉ tạo ra các mối liên hệ thầy trò, trong quá trình dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng luôn luôn mang bản chất tốt đẹp. Chỉ có cách thức tổ chức không đúng, phương pháp tiến hành sai hoặc lợi dụng kiểm tra đánh giá để phục vụ ý đồ chủ quan nào đó mới làm giảm đi những giá trị của công việc này trong quá trình dạy học. Việc bỏ thi tốt nghiệp THCS mà lẽ ra phải cải tiến nó, tìm cách thức kiểm tra thi cử phù hợp với nó, đã tác động tiêu cực không ít đến chất lượng dạy học ở trường trung học cơ sở hiện nay nhất là các môn thường bị xem nhẹ như Lịch sử, Địa lý… Hơn nữa việc kiểm tra đánh giá quá trình học tập lịch sử của học sinh phải được lựa chọn trên cơ sở nghiên cứu những cơ sở khoa học của bộ môn. Tránh tình trạng chỉ kiểm tra biết lịch sử của học sinh bằng phương pháp trắc nghiệm mà không kiểm tra được sự hiểu lịch sử của các em, hoặc ngược lại chỉ hiểu lịch sử chung chung, mà không biết lịch sử…

 Từ thực trạng chất lượng của bộ môn lịch sử nói trên, để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy sử ở trường THPT, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cần đổi mới trong công tác đào tạo ở khoa Lịch Sử trường Đại học sư phạm.

5. Phải nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐHSP

Công tác đào tạo ở trường đại học khác với phổ thông không phải ở chỗ kiến thức nhiều hay ít, nông hay sâu mà quan trọng hơn là phải trang bị cho sinh viên phương pháp học tập tốt, phát huy mọi năng lực tư duy, tích cực chủ động và những năng lực phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Trong quá trình học tập, sinh viên phải tiếp cận được với những thành tựu khoa học, những vấn đề hiện đại về nội dung và phương pháp nghiên cứu. Do đó, ngay từ khi bước chân vào trường Đại học Sư phạm, sinh viên phải được định hướng ngay nhưng năng lực cơ bản, mà những năng lực đó sẽ giúp họ phát huy tác dụng trong suốt quá trình học tập ở trường đại học cũng như trong công tác dạy học sau này:

“Những năng lực đó là gì?”. “Cần phải được rèn luyện như thế nào?”. Có loại năng lực phù hợp với mục tiêu đào tạo và có nâng cao công tác sau này. Tuy nhiên, những năng lực cơ bản đối với người sinh viên đại học sư phạm mà trong quá trình học tập phải hướng vào đó để rèn luyện là: Năng lực tự học, năng lực sư phạm, năng lực nghiên cứu khoa học. 
 
Về năng lực tự học

Bản chất của quá trình đào tạo ở trường đại học là quá trình nhận thức, là quá trình biến những kiến thức khoa học tích luỹ từ nhiều thế hệ của nhân loại, được lựa chọn, thành kiến thức của mỗi sinh viên. Ở trường đại học sư phạm, do thời gian đào tạo có hạn (chỉ 4 năm) không thể (và cũng không làm được) cung cấp toàn bộ những kiến thức khoa học cho sinh viên. Vai trò của người thầy ở trường đại học là hướng dẫn, tổ chức cho sinh viên tự nghiên cứu môn học, chứ không phải là trình bày toàn bộ nội dung môn học. Vì vậy việc học tập của sinh viên về cơ bản bao giờ cũng là tự học. Học tập là công việc suốt đời.

Trên ý nghĩa đó, Lênin đã nêu ra khẩu hiệu mà ai cũng biết “Học, học nữa, học mãi”. Nghị quyết Ban chất hành trung ương lần thứ hai khoá VII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ “phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân nhất là thanh niên”1 (chúng tôi nhấn mạnh). Nhận định về tình hình giáo dục hiện nay, Đại hội X của Đảng (2006) đã chỉ rõ: “chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên ít được bồi dưỡng, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu”2.

Như vậy, rèn luyện năng lực tự học, từng bước hình thành kĩ năng tự học là một yêu cầu cơ bản đối với sinh viên ở trường đại học nói chung, Đại học Sư phạm nói riêng. Do tính chất và yêu cầu của việc học tập ở đại học, việc tự học của sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan chặt chẽ với tất cả những hình thức khác nhau của quá trình tự học. Đồng thời, việc tự học cũng có đặc điểm riêng về nội dung, phương pháp, phương thức tiến hành, trên cơ sở phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của sinh viên thường tiến hành trong ba hình thức chủ yếu:

- Tự học trong quà trình nghe giảng, tham dự xêmina, chuẩn bị ôn thi; làm bài tập, nghiên cứu khoa học…
- Tự học ở nhà khi nghiên cứu giáo trình, tài liệu tham khảo;
- Tự học trong những hoạt động thực tập, thực tế chuyên môn thực hành sư phạm, làm luận văn tốt nghiệp…

Việc tự học là một nhân tố quan trọng để rèn luyện và phát huy tư duy sáng tạo. Vì vậy, việc hướng dẫn cho sinh viên tự học phải được tiến hành thường xuyên, đều đặn, có kế hoạch theo một trình tự phù hợp với trình độ ngày càng được nâng cao. Việc tự học phải lấy việc nỗ lực chủ quan của sinh viên làm điều cốt yếu, chống việc dựa dẫm ỷ lại người khác. Rèn luyện năng lực tự học là một trong những điểm quan trọng trong việc hình thành nhân cách người sinh viên. Do đó, việc hình thành năng lực tự học là yêu cầu đầu tiên không thể thiếu đối với sinh viên ở tất cả các khâu, các yếu tố, các hình thức tổ chức dạy và học ở đại học sư phạm.

Về năng lực dạy học

Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Sư phạm là đào tạo giáo viên Trung học phổ thông, nên việc hình thành năng lực dạy học phải được thực hiện.
Năng lực dạy học là dấu hiệu đặc trưng, cơ bản của người thầy giáo trong nhà trường xưa và nay. Tuy nhiên, năng lực dạy học ở mỗi loại trường, ở các thời kỳ lại có nhiều điểm chủ yếu khác nhau về tính chất, nội dung đào tạo…
Khi bước chân vào giảng đường đại học sư phạm, sinh viên phải được xác định là đã bước vào một trường dạy nghề, song không phải chỉ là để “dạy chữ” mà còn là “dạy nghề”. Học nghề ở trường sư phạm là học để trở thành người thầy giáo có năng lực cao trong nghề dạy học.

Ngày nay, do yêu cầu của sự nghiệp giáo dục nói chung và mục tiêu đào tạo của các trường sư phạm nói riêng, chúng ta phải hiểu năng lực dạy học một cách toàn diện và đầy đủ. Năng lực ấy bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, đa dạng và phong phú thể hiện ở những yêu cầu sau:

Thứ nhất, phải nắm vững kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc (sự kiện, khái niệm, quy luật, bài học lịch sử…) với một mức độ chính xác và vững chắc, ở một trình độ hiện đại, hiểu rõ sách giáo khoa, đồng thời phải nắm vững những kiến thức cần thiết của bộ môn có liên quan. Đây là yêu cầu cơ bản đối với mỗi giáo viên lịch sử và là cơ sơ để rèn luyện “tay nghề”. Để thực hiện tốt yêu cầu này, ngoài nỗ lực của mỗi sinh viên còn đòi hỏi sự tinh thông, uyên bác nhất định, trình độ và yêu cầu dạy học của giảng viên khoa học cơ bản để giúp sinh viên hiểu thêm một cách chính xác, sâu sắc các sự kiện thuật ngữ và các khái niệm lịch sử.

Thứ hai, phải nắm quy luật của dạy học và giáo dục nói chung. Dạy học không phải truyền thụ kiến thức có sẵn một cách đơn thuần (như trong nhà trường cũ) mà là: trên cơ sở hiểu biết sâu sắc học sinh, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển năng lực nhận thức của các em học (óc quan sát, trí nhớ, trí tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ, khả năng phân tích, tổng hợp xét đoán các sự kiện lịch sử), hình thành những cơ sở của thế giới khách quan khoa học. Những quy luật của việc dạy học bộ môn phải được vận dụng một cách đúng đắn, theo đặc trưng nội dung của bộ môn. Những thành tựu lý luận dạy học hiện tại đã khẳng định rằng phương pháp dạy học không đơn thuần chỉ là một vài thao tác thủ thuật của người thầy mà còn bao gồm cả việc định hướng nội dung kiến thức, hoạt động nhận thức của học sinh.

Thứ ba, phải có những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho việc dạy học bộ môn Lịch sử. Cụ thể là:
- Chuẩn bị bài lên lớp( về nội dung, phương pháp, đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo…)
- Vận dụng các phương pháp dạy học để điều khiển lớp học theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức tích cực và độc lập của học sinh;
- Diễn đạt nội dung bài giảng một ngôn ngữ chính xác, giàu hình ảnh và có sức truyền cảm;
- Biết kể chuyện, miêu tả, tường thuật, vẽ bản đồ lịch sử, viết bảng một cách hợp lý, biết xây dựng và sử dụng những đồ dùng dạy học cần thiết và đơn giản;
- Làm hồ sơ về tư liệu giảng dạy nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thầy và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn;
- Biết hướng dẫn và tiến hành những công tác ngoại khoá thực hành cần thiết gắn việc học tập và thực hành bộ môn Lịch sử ở trong trường và ngoài xã hội.
- Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trên lớp, hoạt động ngoài xã hội, tự học ở nhà;…

Năng lực dạy học còn có thể bao gồm những khía cạnh khác nhau. Ở khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm, chúng ta không thể rèn luyện năng lực này một cách hoàn chỉnh và phải đặt cơ sở vững chắc cho việc hình thành năng lực này. Năng lực dạy học là một yêu cầu của dạy học có tính bao quát, kết hợp nhiều khâu, nhiều hoạt động, tiến hành từ khi sinh viên bước chân vào trường sư phạm. Bộ môn phương pháp dạy học có nhiệm vụ đặc biệt tạo cơ sở để hình thành năng lực dạy học cho sinh viên cần chú trọng rèn luyện nghiệp vụ, tăng cường giờ thực hành.

Về năng lực nghiên cứu khoa học

Trường trung học phổ thông là một trung tâm văn hoá của địa phương. Mặt khác, thực tiễn giáo dục đang đặt ra một vấn đề cần thiết, trong khi chất lượng dạy học lịch sử chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách giáo dục. Muốn cho học sinh phổ thông thực sự ham thích bộ môn Lịch sử và học tập có kết quả tốt, muốn cho giờ học lịch sử có tác dụng giáo dục và phát triển thì cùng với đổi mới nội dung cần đổi mới phương pháp dạy học.

Với những lý do trên, người sinh viên khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm cần phải được rèn luyện, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học. Đây cũng là một năng lực sư phạm không thể thiếu. Hiểu rõ sách giáo khoa, xác định được kiến thức cơ bản, tìm tòi tài liệu để làm sáng tỏ nội dung bài giảng đã là một công việc nghiên cứu khoa học đòi hỏi một cách nghiêm túc, cẩn thận. Hơn nữa, nghiên cứu lịch sử địa phương và biết sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học là một yêu cầu khách quan trong không thể thiếu được đối với người giáo viên lịch sử. Đồng thời, phải nắm bắt phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục để góp phần phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn giảng dạy lịch sử một cách khoa học, không mò mẫm theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, góp phần rút ngắn dần khoảng cách giữa những điều tiếp thu được ở trường sư phạm với thực tế phổ thông. Cho nên, nghiên cứu lịch sử địa phương và phương pháp dạy học lịch sử ỏ trường phổ thông là sở trường của giáo viên lịch sử và cần được rèn luyện năng lực nghiên cứu vấn đề này.

Năng lực nghiên cứu khoa học là cơ sở giúp người giáo viên khi mới ra trường có điều kiện phát triển năng lực dạy học một cách sáng tạo; bởi vì dạy học là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật. Ở khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm, việc giảng dạy bộ môn Phương pháp dạy học lịch sử là nhằm cung cấp cho sinh viên những cơ sở của việc nghiên cứu chuyên ngành khoa học này, chứ không phải chỉ truyền thụ kinh nghiệm dạy học. Vì vậy, sinh viên cần được đầu tư thích đáng thời gian và công sức học tập cho có kết quả môn học này để dạy học tốt ở trường phổ thông và tiến hành nghiên cứu chuyên ngành khoa học này.

PGS.TS Trịnh Tùng

 


Hoàng Xuân Hãn
1908 / 1996








Copyright  © 2007 VAHS -  Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 
Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Người chịu trách nhiệm chính: Dương Trung Quốc
Giấy phép số 327/GP-BC của Cục Báo chí - Bộ Văn hóa Thông tin cấp ngày 30/7/2007
Địa chỉ: 25 Tông Đản - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội - Tel: 04. 9350736; Fax: 04. 8256588;
Email:  thanhxuanay@yahoo.com.vn ;  Website: http://hoisuhoc.vn