Tạp chí Xưa & Nay
Tòa soạn: 216 Trần Quang Khải - Hà Nội
Tel/Fax: 04.38256588
Email: tapchixuavanay@yahoo.com
VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP. Hồ Chí Minh
Tel: 08.38385117-Fax: 08.38385126
Email: xuanay@hcm.fpt.vn
Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng
TBT: Dương Trung Quốc
P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh



Tìm kiếm

  Tìm kiếm trên website
  Tìm kiếm trên google


 


  Liên kết website


  Thông tin website
² Thứ Bảy, 31/7/2010
² Số truy cập:32957
  ² Đang online: 19
 

Quảng cáo


 
Đúc tượng Danh nhân
 
 
Trao tặng bia Nguyễn Văn Tường

Cách đây gần mười năm, Hội Khoa học Lịch sử (KHLS) Việt Nam có sáng kiến " Góp một giọt đồng đúc tượng danh nhân" đã trở thành một hoạt động sử học có chiều sâu và là cuộc vận động sôi nổi được nhân dân trong cả nước quan tâm, hàng vạn người hưởng ứng tham gia, đến nay đã đúc được trên 200 tượng danh nhân. 



Năm 2006, Hội KHLS tỉnh Thừa Thiên Huế đã đề ra nhiệm vụ " Tặng bia cho các nhân vật lịch sử " đã được toàn thể Ban chấp hành đồng tình và được Hội KHLS Việt Nam cho đó là một sáng kiến kế tục trong công tác Hội nhằm tôn vinh để danh nhân có được "Tượng đồng, Bia đá" ghi nhận công lao, khẳng định sự nghiệp trong lịch sử cho đến thời điểm nghiên cứu hiện nay. 

Nguyễn Văn Tường (1824-1886) là nhân vật đầu tiên được đề xuất trao tặng văn bia lịch sử, bởi vì: 

- Đây là nhân vật lịch sử có tầm vóc to lớn và ảnh hưởng sâu rộng trên chính trường và xã hội nước ta vào nửa sau thế kỷ XIX. 

- Là nhân vật hàng đầu trong phe chủ chiến chống Pháp, chống triều đình tay sai và các hoàng thân, quan lại thân Pháp nên bị sử sách thời thực dân, phong kiến lên án, dư luận đương thời khen chê bất nhất; điều đó đã tác động đến cách nhìn nhận của giới sử học nước ta từ sau năm 1945 ở cả hai miền đất nước, làm cho giới nghiên cứu sau năm 1975 không bằng lòng và nhiều độc giả băn khoăn. 

- Cùng với công cuộc đổi mới đất nước, các triều đại cũng như các nhân vật lịch sử được giới sử học nước ta nghiên cứu, đánh giá công bằng và công minh hơn. Nổi bật nhất là thành tựu nghiên cứu về triều Nguyễn và các nhân vật dưới triều Nguyễn mà Nguyễn Văn Tường là trường hợp điển hình được ánh sáng sử học soi rọi trong từng sự kiện, từng hành trạng, từng câu chữ trong các bài dụ của vua Hàm Nghi, các bản báo cáo, Công báo của thực dân Pháp, từng dòng tư liệu trong sử sách, từng lời nói, câu thơ, từng trang gia phả...Qua các nguồn tư liệu của giới sử học trong nước cùng các tài liệu lưu trữ tại Pháp và Tahiti do hậu duệ là bà Nguyễn Ngọc Oanh và Trần Nguyễn Từ Vân đã dành nhiều năm dày công sưu tầm; nguồn tư liệu đó trước năm 1975 giới sử học nước ta chưa có điều kiện tiếp cận. Kết quả này đã được công bố trong các cuộc hội thảo năm 1996 tại thành phố Hồ Chí Minh do trường Đại học Sư phạm tổ chức; đặc biệt là hội thảo mang tầm quốc gia ở thành phố Huế vào năm 2002 do Hội KHLS tỉnh Thừa Thiên Huế và Trung tâm KHXH và Nhân văn Huế (Đại học Huế) tổ chức; năm 2003, Hội KHLS Việt Nam tổ chức tại Thủ đô Hà Nội. Những kết quả nghiên cứu trên đã được chúng tôi thay mặt Hội KHLS Việt Nam báo cáo tại quê hương An Cư, xã Triệu Phước của Nguyễn Văn Tường vào ngày 24 tháng 3 năm 2007 trong dịp khánh thành đền thờ của ông. 

Kết quả nghiên cứu về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường là một trong những thành tựu có ý nghĩa của giới sử học nước ta trong thời gian qua. Từ trong tăm tối của quá khứ bất minh, lịch sử Nguyễn Văn Tường đã được đưa ra ánh sáng, được khôi phục lại giá trị chân chính; giới sử học đã tẩy được vết nhơ trên tấm kính chân dung, hình ảnh Nguyễn Văn Tường từ đây được tỏa sáng và được hậu thế tôn vinh. Để ghi lại vắn tắt về một quá trình nghiên cứu lâu dài và khẳng định vai trò Nguyễn Văn Tường đối với lịch sử dân tộc, Hội KHLS Việt Nam - Hội KHLS tỉnh Thừa Thiên Huế kính tặng Bia Lịch sử Nguyễn Văn Tường cho quê hương và gia tộc.

PGS.TS Đỗ Bang
(Phó Tổng thư ký Hội KHLS Việt
, Chủ tịch Hội KHLS Thừa Thiên Huế)  

 

Nội dung văn bia Kỳ vĩ Quận công Nguyễn Văn Tường (1824-1886) 

Sinh trưởng tại làng An Cư, tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Văn Tường đỗ Cử nhân năm 26 tuổi, được bổ làm Huấn đạo huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), thăng Tri huyện Thành Hoá (nay là huyện Hướng Hoá, Cam Lộ và Đakrông) thuộc tỉnh Quảng Trị, chăm lo cho dân miền núi, lập nhiều công trạng, nên được chuyển về Kinh làm Viên ngoại lang bộ Binh, vào Quảng Nam làm Án sát, về Huế làm Phủ doãn Thừa Thiên. Sau vụ khởi nghĩa " Chày vôi" ở kinh thành (1866), ông bị giáng chức làm Bang biện huyện Thành Hoá. Ông đã mộ dân lập làng, mở đường, thúc đẩy giao thương miền núi, rồi ra làm Tán tương quân vụ quân thứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Tuyên Quang. Cuối năm 1873, Hà thành thất thủ, ông được cử làm Khâm sai, ra Hà Nội thương nghị với phái viên Pháp thu hồi bốn tỉnh thành bị chiếm, vào Gia Định ký Hoà ước Giáp Tuất (1874). Sau đó, ông được thăng Thượng thư bộ Hình, sung Đại thần viện Cơ Mật, rồi Thượng thư bộ Hộ kiêm quản viện Thương bạc, lo việc ngoại giao với Pháp. Khi vua Tự Đức băng hà (1883), ông được sung làm Đệ nhất Phụ chính đại thần. Ông cùng Đệ nhị Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết chủ trương phế bỏ các vua chủ hoà, trấn áp các phần tử thân Pháp.

Đầu năm 1884, ông làm Thượng thư bộ Lại, thăng Cần chánh điện Đại học sĩ, được ban tước Kỳ Vĩ Quận công. Ông cùng Tôn Thất Thuyết tích cực xây dựng căn cứ Tân Sở, lập quân Phấn Nghĩa, tu bổ hệ thống phòng thủ miền núi để phòng đại sự. Đêm mồng 4 rạng ngày
5-7-1885, Tôn Thất Thuyết tổ chức trận đánh úp quân Pháp tại Huế không thành. Kinh thành bị giặc chiếm, ông hộ giá vua Hàm Nghi rời kinh, đến Kim Long thì theo mật chỉ của Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ, ông phải ở lại Huế tìm cách liên hệ với toà Khâm sứ Pháp để thương thuyết. Nhưng De Courcy nghi ngờ đã giam lỏng ông ở viện Thương bạc với sự giám sát cẩn mật, buộc ông trong vòng 2 tháng phải ổn định tình hình, đưa vua về triều.

Tài liệu lưu trữ ở Pháp và
Tahiti cho biết: Trong vòng kềm tỏa của kẻ thù, ông vẫn bí mật chống Pháp. Sau khi phát hiện ra mật thư của một phái viên chuyển đến, ông bị De Courcy ra lệnh bắt khẩn cấp, kết tội, đày đi Côn Đảo, rồi sang Tahiti. Tại đây, uất ức vì chí lớn không thành, ông lâm bệnh và qua đời ngày 30-7-1886
(29-6- Bính Tuất), ít lâu sau thi hài ông được đưa về an táng tại quê nhà. Suốt 36 năm trưởng thành gắn với vận nước gian truân, đảm đương nhiều trọng trách, ông đã tỏ rõ phẩm chất một vị quan yêu nước, chăm lo cho dân. Là một nhà chính trị và ngoại giao tài năng ở nửa sau thế kỷ XIX, ông hành xử trong bối cảnh đất nước có nhiều nguy cơ và biến động khó lường; hành động của ông khá quyền biến, linh hoạt, khiến dư luận đương thời khen chê bất nhất. Nhưng cuối cùng hậu thế đã hiểu được ông: Một đại thần suốt đời trung trinh với nước, sáng tỏ một tấm lòng son. 

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế 

 

 





Copyright  © 2007 VAHS -  Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 
Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Người chịu trách nhiệm chính: Dương Trung Quốc
Giấy phép số 327/GP-BC của Cục Báo chí - Bộ Văn hóa Thông tin cấp ngày 30/7/2007
Địa chỉ: 216 Trần Quang Khải - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội - Tel: 04. 39369089 - 0913553003; Fax: 04. 38256588;
Email:  hoisuhocvietnam@yahoo.com.vn;  Website: http://hoisuhoc.vn